Thông báo
Tôn chỉ & Mục đích
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng (Journal of Economic - Law and Banking - JELB) tiền thân là Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng trực thuộc Học viện Ngân hàng với hai phiên bản: Phiên bản tiếng Việt có tên là Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, ISSN 3030-4199 và phiên bản tiếng Anh có tên là Journal of Economic and Banking Studies, ISSN 2734-9853.
Tạp chí công bố các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn đa dạng, với ưu tiên nhưng không giới hạn ở các lĩnh vực kinh tế, luật, ngân hàng, tài chính, kinh doanh, quản lý, công nghệ và giáo dục. Tạp chí hướng tới trở thành kênh giao tiếp học thuật có uy tín trên toàn cầu và là cơ sở dữ liệu tham khảo, trích dẫn cho các nghiên cứu tương lai.
Bài viết gửi đến Tạp chí được quản lý trên hệ thống trực tuyến, phản biện kín hai chiều bởi các nhà khoa học có uy tín, cùng với quy trình xét duyệt minh bạch, chặt chẽ, đảm bảo công bố kịp thời các bài báo có chất lượng theo chuẩn quốc tế.
Tạp chí kỳ vọng nhận được các nghiên cứu với các phân tích cẩn trọng dựa trên khung lý thuyết đáng tin cậy, các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm theo thông lệ quốc tế, và có các khuyến nghị đề xuất chính sách hoặc hàm ý quản trị cho các bên liên quan.
Các bài báo vừa xuất bản
Bài nghiên cứu nhằm phân tích và đánh giá hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để ứng phó với những bất ổn kinh tế trong năm 2025. Bằng phương pháp phân tích định tính như thống kê, so sánh, bài nghiên cứu đã làm rõ những kết quả, hạn chế trong điều hành lãi suất, tín dụng, tỷ giá và thị trường vàng mà NHNN Việt Nam đã thực hiện. Trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị chính sách cho NHNN Việt Nam để nâng cao hiệu lực điều hành CSTT trong thời gian tới.
Bài viết sử dụng phương pháp hồi quy mô-men phân vị (method of moments for quantile regression) kết hợp với bộ dữ liệu bảng không cân bằng gồm 185 ngân hàng khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2000–2022 nhằm phân tích các nhân tố tác động tới rủi ro tín dụng theo các mức phân vị khác nhau của rủi ro tín dụng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ở cấp độ ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, hiệu quả hoạt động và tính thanh khoản giúp làm giảm rủi ro tín dụng, nhất là với các ngân hàng có rủi ro tín dụng cao, trong khi chiến lược đa dạng hóa làm gia tăng rủi ro tín dụng. Ở góc độ vĩ mô, tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm rủi ro tín dụng, trong khi lạm phát và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 làm rủi ro tín dụng gia tăng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bài viết này nhằm khái quát kinh nghiệm của Trường Đại học Ứng dụng trực thuộc Ngân hàng Trung ương Đức trong việc xây dựng chương trình đào tạo cử nhân định hướng làm việc tại ba cơ quan là Ngân hàng Trung ương Đức, Cơ quan Giám sát Dịch vụ Tài chính Liên bang và Ngân hàng Trung ương Namibia. Chương trình này là một mô hình đào tạo kép kéo dài ba năm, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành chuyên môn. Từ kinh nghiệm của Đức, bài viết đề xuất các bài học quan trọng cho Việt Nam, bao gồm: xây dựng mô hình đào tạo kép, áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại lấy người học làm trung tâm, thiết lập quan hệ đối tác chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để đồng thiết kế chương trình, thiết lập cơ chế kiểm định chất lượng dựa trên năng lực thực tiễn, và tăng cường hỗ trợ tài chính cùng cơ hội học tập quốc tế. Từ đó, giúp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu, đáp ứng những yêu cầu phức tạp của Ngân hàng Nhà nước cũng như của nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh doanh - vận hành nhiều biến động, hành vi chủ động trong công việc được nhận định như yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất, đổi mới và khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò của trải nghiệm nhân viên và năng lực thích ứng trong việc hình thành hành vi chủ động, đánh giá tác động của ba yếu tố môi trường tổ chức gồm cơ hội phát triển, sự công bằng và hỗ trợ, và văn hóa cởi mở tới trải nghiệm của nhân viên. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 459 cán bộ, nhân viên tại Tổng Công ty Thép Việt Nam và được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả phân tích cho thấy khả năng thích ứng có ảnh hưởng mạnh nhất đến hành vi chủ động, và đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa trải nghiệm và hành vi của người lao động, trong khi trải nghiệm nhân viên chịu tác động tích cực từ các yếu tố tổ chức, đặc biệt là yếu tố công bằng và hỗ trợ. Do đó, Tổng Công ty Thép Việt Nam cần cải thiện môi trường làm việc và phát triển năng lực thích ứng thông qua đào tạo linh hoạt, cơ chế phản hồi hiệu quả và trao quyền phù hợp, nhằm thúc đẩy hành vi chủ động cho nhân viên
Nghiên cứu khám phá tác động của ứng dụng AI phát hiện gian lận đến nhận thức về AI và lòng tin vào nền tảng thương mại điện tử; trong đó, nhận thức về AI được xem xét cả khía cạnh tích cực (cảm nhận hữu ích, cảm nhận dễ sử dụng) và tiêu cực (lo ngại quyền riêng tư, lo ngại vấn đề đạo đức, công nghệ chưa hoàn thiện). Kết quả khảo sát 420 người tiêu dùng Việt Nam cho thấy 65,3% sự biến thiên trong lòng tin vào nền tảng thương mại điện tử được giải thích bởi ứng dụng AI phát hiện gian lận và nhận thức về AI. Đặc biệt, nghiên cứu khẳng định vai trò then chốt của AI phát hiện gian lận trong việc xây dựng lòng tin thông qua tác động kép: trực tiếp lên lòng tin và gián tiếp qua việc định hình nhận thức về AI. Kết quả nghiên cứu cung cấp hàm ý quản trị cho các nền tảng thương mại điện tử nhằm triển khai AI phát hiện gian lận hiệu quả, cân bằng giữa bảo mật và trải nghiệm người dùng
Quyền miễn trách nhiệm
Thông tin và nội dung được giới thiệu trong các ấn phẩm của JELB phản ánh quan điểm của tác giả và cộng sự. Vì vậy, JELB không chịu trách nhiệm đối với những sai sót và hệ quả phát sinh từ vấn đề sử dụng thông tin trong các bài viết.
JELB không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý về sự sai sót và thiếu chính xác của các dữ liệu, thông tin, đánh giá, hay nhận định bắt nguồn từ độ tin cậy của thông tin cũng như quan điểm được thể hiện trong các bài viết.