Menu

Thông báo

preview

Tôn chỉ & Mục đích

Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng (Journal of Economic - Law and Banking - JELB) tiền thân là Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng trực thuộc Học viện Ngân hàng với hai phiên bản: Phiên bản tiếng Việt có tên là Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, ISSN 3030-4199 và phiên bản tiếng Anh có tên là Journal of Economic and Banking Studies, ISSN 2734-9853.

Tạp chí công bố các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn đa dạng, với ưu tiên nhưng không giới hạn ở các lĩnh vực kinh tế, luật, ngân hàng, tài chính, kinh doanh, quản lý, công nghệ và giáo dục. Tạp chí hướng tới trở thành kênh giao tiếp học thuật có uy tín trên toàn cầu và là cơ sở dữ liệu tham khảo, trích dẫn cho các nghiên cứu tương lai.

Bài viết gửi đến Tạp chí được quản lý trên hệ thống trực tuyến, phản biện kín hai chiều bởi các nhà khoa học có uy tín, cùng với quy trình xét duyệt minh bạch, chặt chẽ, đảm bảo công bố kịp thời các bài báo có chất lượng theo chuẩn quốc tế.

Tạp chí kỳ vọng nhận được các nghiên cứu với các phân tích cẩn trọng dựa trên khung lý thuyết đáng tin cậy, các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm theo thông lệ quốc tế, và có các khuyến nghị đề xuất chính sách hoặc hàm ý quản trị cho các bên liên quan.

Các bài báo vừa xuất bản

Tác động của bất định chính sách kinh tế đến biến động thị trường chứng khoán Việt Nam: Bằng chứng từ chỉ số EPU nội địa qua phương pháp ML-LLM và ARDL
Trần Việt Dũng, Trương Hoàng Diệp Hương
Bản điện tử: 16/04/2026 | DOI:
Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích thực nghiệm tác động của bất định chính sách kinh tế (EPU) tới mức độ rủi ro và biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam (đo lường qua chỉ số VN-Index) trong giai đoạn 2008–2025. Bằng cách ứng dụng kỹ thuật Machine Learning (thuật toán Logistic Regression) trên tập dữ liệu văn bản từ gần 500.000 bài báo kinh tế, nhóm nghiên cứu đã xây dựng chỉ số EPU nội địa cho Việt Nam. Sử dụng mô hình ARDL và NARDL, kết quả nghiên cứu gợi ý sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết dài hạn bền vững giữa EPU và biến động VN-Index. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra tính bất đối xứng trong phản ứng của thị trường, khi các cú sốc gia tăng bất định chính sách (tin xấu) làm gia tăng biên độ biến động thị trường mạnh mẽ hơn đáng kể so với hiệu ứng giảm biến động từ các cú sốc ổn định chính sách (tin tốt). Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc minh bạch hóa lộ trình chính sách nhằm ổn định tâm lý nhà đầu tư và giảm thiểu rủi ro hệ thống tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

ĐÁNH GIÁ KHOẢNG CÁCH GIỮA YÊU CẦU CHÍNH SÁCH VÀ NĂNG LỰC AN TOÀN THÔNG TIN TẠI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VIỆT NAM
Chu Thị Hồng Hải, Phan Thanh Đức, Triệu Thu Hương, Lưu Quang Hà
Bản điện tử: 16/04/2026 | DOI:
Tóm tắt

Nghiên cứu đo lường khoảng cách giữa ngưỡng yêu cầu tối thiểu tại mốc năm 2025 và năng lực an toàn thông tin (ATTT) thực tế của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) Việt Nam, từ đó rút ra hàm ý cho giai đoạn chuyển đổi số 2026–2030. Trên mẫu 1.068 QTDND hợp lệ và khung phân tích kết hợp lý thuyết thể chế với quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV), kết quả cho thấy điểm ATTT trung bình toàn hệ thống đạt 1,89/5,0 và 87,73% đơn vị dưới ngưỡng tối thiểu (E = 2,5). Phân rã theo Khung an ninh mạng của NIST chỉ ra cấu trúc mất cân đối: hệ thống tương đối tốt ở lớp thiết lập/tuân thủ (Nhận diện, Bảo vệ) nhưng thiếu hụt nghiêm trọng ở năng lực vận hành sâu (Phát hiện, Phục hồi), đặc biệt trong nhóm quy mô nhỏ. Kết quả cung cấp bằng chứng định lượng mạnh về khoảng cách giữa chính sách và thực thi, gợi ý chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát tuân thủ sang kiến tạo năng lực thông qua cơ chế dịch vụ dùng chung và nguyên tắc quản lý tương xứng theo quy mô.

Sự vận động trong cấu trúc lợi thế so sánh của Việt Nam: Phân cụm RSCA ở cấp độ HS2 giai đoạn 2000-2023
An Như Hưng
Bản điện tử: 16/04/2026 | DOI:
Tóm tắt

Bài viết phân tích sự vận động trong cấu trúc lợi thế so sánh của Việt Nam ở cấp độ ngành HS 2 chữ số giai đoạn 2000-2023. Sử dụng phân cụm K-means trên véc-tơ đặc trưng của sự vận động về mức lợi thế, độ biến động, độ bền, độ bất ổn và xu hướng, các ngành HS2 được phân thành bốn cụm có mẫu hình vận động tương đối đồng nhất. Trên nền phân cụm, bài viết mô tả vai trò của từng cụm trong cơ cấu xuất khẩu và đóng góp vào tăng/giảm xuất khẩu qua thời gian, đồng thời đo lường mức tập trung nội bộ cụm. Ma trận chuyển trạng thái Markov được sử dụng sau đó để lượng hóa xác suất duy trì, hình thành và đánh mất lợi thế theo các giai đoạn. Kết quả cho thấy động lực tăng trưởng xuất khẩu dịch chuyển theo thời gian giữa các cụm, trong khi mức tập trung nội bộ khác biệt đáng kể. Từ đó, nghiên cứu hàm ý cách tiếp cận thiết kế chính sách theo hướng quản trị danh mục cân bằng rủi ro-tăng trưởng, trong đó gói chính sách cần được điều chỉnh theo đặc thù từng cụm để vừa khai thác động lực tăng trưởng, vừa giảm rủi ro tập trung và phụ thuộc.

Hành vi chuyển đổi trong lĩnh vực dịch vụ: Tổng quan hệ thống về quá trình phát triển, khoảng trống và định hướng nghiên cứu tương lai
Trần Trọng Vũ Long,Nguyễn Xuân Hưng
Bản điện tử: 16/04/2026 | DOI:
Tóm tắt

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét quá trình hình thành, xu hướng phát triển và các kết quả nghiên cứu đã đạt được về hành vi chuyển đổi trong lĩnh vực dịch vụ. Bằng phương pháp tổng quan hệ thống, nghiên cứu tiến hành phân tích 123 bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục Web of Science và Scopus trong giai đoạn 1995–2025, bao gồm nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau từ dịch vụ ngân hàng, viễn thông đến các dịch vụ trực tuyến mới như thương mại điện tử, mạng xã hội, thanh toán trực tuyến... Kết quả cho thấy khái niệm hành vi chuyển đổi đã phát triển từ góc nhìn chuyển đổi hoàn toàn sang bao hàm cả hành vi chuyển đổi một phần. Đồng thời, lĩnh vực nghiên cứu này hiện có 3 hướng nghiên cứu chính. Ngoài ra, tổng quan cũng xác định mười nhân tố chính thường được xem xét trong các nghiên cứu về hành vi chuyển đổi. Nghiên cứu này là một trong số ít công trình tổng quan có hệ thống về chủ đề này, qua đó cung cấp cái nhìn về tiến trình phát triển của lĩnh vực, góp phần củng cố cơ sở lý thuyết về hành vi chuyển đổi trong dịch vụ, đồng thời đưa ra các gợi ý cho các hướng nghiên cứu khả thi trong tương lại.

Rủi ro chính sách và kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Dương Thị Thùy An
Bản điện tử: 16/04/2026 | DOI:
Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của rủi ro chính sách đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp phi tài chính (loại trừ bất động sản) niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2016–2024. Kiệt quệ tài chính được đo lường bằng Z’’-score và biến nhị phân xác định doanh nghiệp thuộc nhóm có Z-score thấp theo từng năm. Mô hình được ước lượng bằng phương pháp hồi quy đa hiệu ứng cố định, hấp thụ tác động cố định theo doanh nghiệp, ngành và năm; sai số chuẩn được cụm hóa theo doanh nghiệp nhằm xử lý phương sai thay đổi và tự tương quan theo chuỗi thời gian. Kết quả cho thấy các khía cạnh rủi ro chính sách đều làm suy giảm Z’’-score và gia tăng xác suất rơi vào KQTC của DN, hàm ý rằng các cú sốc trong điều hành chính sách vĩ mô có thể làm suy yếu sức khỏe tài chính của doanh nghiệp và gia tăng rủi ro bất ổn ở cấp vi mô. Nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của ba thành phần rủi ro chính sách đến kiệt quệ tài chính trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi. Việc sử dụng đồng thời thước đo liên tục và nhị phân của kiệt quệ tài chính, cùng phương pháp ước lượng tác động cố định đa chiều, giúp tăng cường độ tin cậy và tính vững của kết quả ước lượng. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của tính ổn định, minh bạch trong điều hành chính sách nhằm củng cố sức chống chịu tài chính của doanh nghiệp.

Quyền miễn trách nhiệm

Thông tin và nội dung được giới thiệu trong các ấn phẩm của JELB phản ánh quan điểm của tác giả và cộng sự. Vì vậy, JELB không chịu trách nhiệm đối với những sai sót và hệ quả phát sinh từ vấn đề sử dụng thông tin trong các bài viết.

JELB không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý về sự sai sót và thiếu chính xác của các dữ liệu, thông tin, đánh giá, hay nhận định bắt nguồn từ độ tin cậy của thông tin cũng như quan điểm được thể hiện trong các bài viết.