Thông báo
Tôn chỉ & Mục đích
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng (Journal of Economic - Law and Banking - JELB) tiền thân là Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng trực thuộc Học viện Ngân hàng với hai phiên bản: Phiên bản tiếng Việt có tên là Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, ISSN 3030-4199 và phiên bản tiếng Anh có tên là Journal of Economic and Banking Studies, ISSN 2734-9853.
Tạp chí công bố các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn đa dạng, với ưu tiên nhưng không giới hạn ở các lĩnh vực kinh tế, luật, ngân hàng, tài chính, kinh doanh, quản lý, công nghệ và giáo dục. Tạp chí hướng tới trở thành kênh giao tiếp học thuật có uy tín trên toàn cầu và là cơ sở dữ liệu tham khảo, trích dẫn cho các nghiên cứu tương lai.
Bài viết gửi đến Tạp chí được quản lý trên hệ thống trực tuyến, phản biện kín hai chiều bởi các nhà khoa học có uy tín, cùng với quy trình xét duyệt minh bạch, chặt chẽ, đảm bảo công bố kịp thời các bài báo có chất lượng theo chuẩn quốc tế.
Tạp chí kỳ vọng nhận được các nghiên cứu với các phân tích cẩn trọng dựa trên khung lý thuyết đáng tin cậy, các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm theo thông lệ quốc tế, và có các khuyến nghị đề xuất chính sách hoặc hàm ý quản trị cho các bên liên quan.
Các bài báo vừa xuất bản
Bài viết đánh giá tác động của cảnh báo “thẻ vàng” IUU đối với vai trò tương đối của thị trường EU trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Điểm nhấn của bài viết là đặt EU trong tương quan với các thị trường lớn ngoài EU, qua đó phân biệt giữa suy giảm tương đối của thị trường EU và biến động kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Bài viết sử dụng dữ liệu UN Comtrade giai đoạn 2004–2023 ở cấp độ nước nhập khẩu – mã HS6 – năm, kết hợp ước lượng PPML với ảnh hưởng cố định và hai giỏ sản phẩm để xử lý bất định khi chuyển từ phạm vi pháp lý CN8 của EU sang dữ liệu HS6. Kết quả cho thấy xuất khẩu thủy sản sang EU giảm tương đối so với nhóm ngoài EU sau thẻ vàng. Bằng chứng rõ nhất ở giỏ nới lỏng, với mức suy giảm tương đối khoảng 40,5%, trong khi giỏ nghiêm ngặt cho dấu tác động cùng chiều nhưng cần được diễn giải thận trọng hơn. Phân tích trước - sau về giá trị và tỷ trọng xuất khẩu cho thấy tỷ trọng EU trong cơ cấu xuất khẩu giảm ở cả hai giỏ sản phẩm: trong giỏ nghiêm ngặt, xuất khẩu sang EU vẫn tăng nhưng chậm hơn ngoài EU; trong giỏ nới lỏng, xuất khẩu sang EU giảm nhẹ trong khi ngoài EU tăng mạnh. Kết quả hàm ý rằng chi phí của thẻ vàng cần được đánh giá qua cả vị thế tại thị trường tiêu chuẩn cao, không chỉ qua tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của văn hóa đổi mới và năng lực nội bộ đến phát triển dịch vụ ngân hàng số tại ngân hàng thương mại, với bằng chứng thực nghiệm từ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank). Trên cơ sở kế thừa lý thuyết nguồn lực, lý thuyết năng lực động, khung công nghệ - tổ chức - môi trường và các nghiên cứu về chuyển đổi số ngân hàng, bài viết đề xuất mô hình trong đó văn hóa đổi mới tác động đến phát triển dịch vụ ngân hàng số thông qua vai trò trung gian của năng lực nội bộ ngân hàng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ khảo sát cán bộ, nhà quản lý và khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại VietinBank, với 1.318 quan sát hợp lệ. Phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) được sử dụng để kiểm định độ tin cậy thang đo, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt và các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả cho thấy văn hóa đổi mới có tác động tích cực đến năng lực nội bộ ngân hàng; năng lực nội bộ có tác động tích cực và mạnh đến phát triển dịch vụ ngân hàng số; đồng thời, văn hóa đổi mới tác động gián tiếp đến phát triển dịch vụ ngân hàng số thông qua năng lực nội bộ. Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng, trong chuyển đổi số ngân hàng, văn hóa đổi mới chỉ thực sự tạo ra kết quả khi được chuyển hóa thành năng lực tổ chức cụ thể, bao gồm năng lực nhân sự số, quy trình hỗ trợ đổi mới, cam kết lãnh đạo và văn hóa học hỏi - cải tiến công nghệ. Bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy phát triển dịch vụ ngân hàng số tại VietinBank và các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Trong chuỗi cung ứng, khâu bán hàng giữ vai trò then chốt nhưng ngày càng trở nên thách thức trong bối cảnh thị trường bão hòa. Thách thức được đặt ra đối với các thương hiệu khởi nghiệp là làm như thế nào để thuyết phục được người tiêu dùng tin tưởng và lựa chọn. Trong bối cảnh số hóa, nội dung do người dùng tạo (UGC) đã nổi lên và trở thành nguồn thông tin đáng tin cậy hơn so với quảng cáo truyền thống, và trở thành công cụ thúc đẩy việc bán hàng. Nghiên cứu này xem xét cách thức lợi ích của UGC thúc đẩy việc áp dụng thông tin và ý định mua hàng của khách hàng trong bối cảnh các ngành công nghiệp bão hòa. Phương pháp định lượng đã được sử dụng và thông qua 425 phản hồi hợp lệ, lợi ích của UGC quả thực có thúc đẩy việc áp dụng thông tin và ý định mua hàng. Song, ảnh hưởng của chúng đến nhận thức tính hữu ích và nhận thức niềm tin không giống nhau. Nghiên cứu kỳ vọng không chỉ đóng góp về lý thuyết liên quan đến quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng, mà còn cung cấp những hàm ý thực tiễn cho các thương hiệu khởi nghiệp trong các ngành công nghiệp bão hòa về cách tận dụng UGC như một sáng kiến tiếp thị bán hàng hiệu quả.
Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng sản phẩm OCOP của khách du lịch nội địa tại Hải Phòng, đồng thời làm rõ vai trò của văn hóa mua quà tặng trong bối cảnh tiêu dùng du lịch ở Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 150 khách du lịch nội địa và được phân tích với các thủ tục thống kê mô tả, phân tích Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và SEM. Kết quả cho thấy trong sáu nhân tố được kiểm định, năm nhân tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định tiêu dùng sản phẩm OCOP, gồm: sản phẩm, phân phối, giá trị cảm xúc, giá cả và văn hóa mua quà tặng, và nhân tố sản phẩm có tác động mạnh nhất, trong khi nhân tố nhóm tham khảo chưa đủ bằng chứng thống kê để khẳng định tác động. Kết quả nghiên cứu cho thấy văn hóa mua quà tặng có thể được xem như một nhân tố trực tiếp trong quyết định tiêu dùng sản phẩm OCOP của khách du lịch, thay vì chỉ là bối cảnh văn hóa chung. Trên cơ sở đó, nghiên cứu gợi ý cần nâng cao chất lượng và tính bản địa của sản phẩm, mở rộng kênh phân phối tại các điểm du lịch, và phát triển sản phẩm OCOP theo hướng quà tặng du lịch gắn với trải nghiệm và cảm thụ bản sắc địa phương.
Nghiên cứu này kiểm định tác động của phong cách lãnh đạo phục vụ đến hành vi xanh nhân viên và vai trò trung gian của môi trường tâm lý xanh, động lưc nội tại nhân viên. Dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết học tập xã hội và lý thuyết tự quyết, nghiên cứu giải thích cách lãnh đạo phục vụ thúc đẩy nhận thức môi trường và động lực nhằm gia tăng hành vi xanh nhân viên. Dữ liệu thu thập từ 300 nhân viên làm việc trong 22 doanh nghiệp vận tải hành khách tại Thành phố Hồ Chí Minh và được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả cho thấy lãnh đạo phục vụ tác động trực tiếp và gián tiếp đến hành vi xanh nhân viên. Về mặt học thuật, nghiên cứu không chỉ xác nhận các mối quan hệ đã được đề cập trong các nghiên cứu trước mà còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh doanh nghiệp vận tải tại nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ cơ chế tác động gián tiếp của lãnh đạo phục vụ đến hành vi xanh nhân viên, dưới góc độ tiếp cận mới, tích hợp ba nền tảng lý thuyết để giải thích cho mối quan hệ trong mô hình.
Quyền miễn trách nhiệm
Thông tin và nội dung được giới thiệu trong các ấn phẩm của JELB phản ánh quan điểm của tác giả và cộng sự. Vì vậy, JELB không chịu trách nhiệm đối với những sai sót và hệ quả phát sinh từ vấn đề sử dụng thông tin trong các bài viết.
JELB không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý về sự sai sót và thiếu chính xác của các dữ liệu, thông tin, đánh giá, hay nhận định bắt nguồn từ độ tin cậy của thông tin cũng như quan điểm được thể hiện trong các bài viết.